1
Định nghĩa
 Bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính (CML) là một loại ung thư phổ biến của các tế bào máu. Thuật ngữ "mãn tính" trong bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính chỉ ra bệnh ung thư này có xu hướng tiến triển chậm hơn so với các hình thức cấp tính của bệnh bạch cầu. Thuật ngữ "tủy xương" trongbệnh bạch cầu tủy xương mãn tính dùng để chỉ các loại tế bào bị ảnh hưởng bởi bệnh ung thư này.

Bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính cũng có thể được gọi là bệnh bạch cầu myeloid mãn tính và bệnh bạch cầu mãn tính granulocytic. Bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính thường ảnh hưởng đến người cao niên và hiếm khi xảy ra ở trẻ em, mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi .

2
Tổng quan
 
2
Nguyên nhân
 Bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính xảy ra khi một cái gì đó không đúng trong gen của các tế bào máu. Không rõ những gì ban đầu gây ra quá trình này, nhưng các bác sĩ đã phát hiện ra cách nó tiến triển thành bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính.

Trước tiên, một nhiễm sắc thể bất thường phát triển

Nhân tế bào bình thường chứa 23 cặp nhiễm sắc thể. Các nhiễm sắc thể giữ DNA có chứa các gene điều khiển các tế bào trong cơ thể. Ở những người bị bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính, các nhiễm sắc thể trong tế bào máu trao đổi các phần với nhau. Một phần của nhiễm sắc thể 9 chuyển mạch với một phần của nhiễm sắc thể 22, tạo ra một nhiễm sắc thể thêm.

Nhiễm sắc thể thêm được gọi là nhiễm sắc thể Philadelphia. Nhiễm sắc thể Philadelphia có mặt trong các tế bào máu 90 phần trăm số người mắc bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính.

Thứ hai, các nhiễm sắc thể bất thường tạo ra một gen mới

Nhiễm sắc thể Philadelphia tạo ra một gen mới. Gen từ nhiễm sắc thể 9 kết hợp với gen từ nhiễm sắc thể 22 để tạo ra một gene mới gọi là BCR - ABL. Các gen BCR - ABL gồm những chỉ dẫn cho tế bào máu bất thường sản xuất quá nhiều protein gọi là tyrosine kinase. Tyrosine kinase thúc đẩy ung thư bằng cách cho phép các tế bào máu nhất định phát triển ra khỏi kiểm soát.

Thứ ba, các gene mới gây bệnh quá nhiều các tế bào máu

Các tế bào máu có nguồn gốc trong tủy xương, một loại vật liệu xốp bên trong xương. Khi chức năng tủy xương bình thường, nó tạo ra các tế bào chưa trưởng thành (tế bào gốc máu) một cách có kiểm soát. Những tế bào này sau đó trưởng thành và tạo thành các loại tế bào máu lưu thông trong cơ thể, các tế bào hồng cầu, các tế bào bạch cầu và tiểu cầu.

Trong bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính, quá trình này không hoạt động đúng. Các tyrosine kinase do gen BCR - ABL gây ra quá nhiều tế bào bạch cầu. Hầu hết hoặc tất cả các nhiễm sắc thể Philadelphia có các bất thường. Các tế bào bạch cầu bệnh không phát triển và chết như tế bào bình thường. Các tế bào bạch cầu bệnh xây dựng với số lượng rất lớn, tràn ngập trong các tế bào máu khỏe mạnh và làm hại tuỷ xương.

3
Triệu chứng
 Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính có thể bao gồm:

Dễ chảy máu.

Cảm thấy mệt mỏi.

Sốt.

Thường xuyên bị nhiễm trùng.

Giảm cân.

Ăn mất ngon.

Đau hoặc tức dưới xương sườn bên trái.

Da nhợt nhạt.

Ra mồ hôi quá mức trong khi ngủ.

Bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính không luôn luôn có dấu hiệu và các triệu chứng trong giai đoạn đầu rõ ràng. Có thể sống chung với bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính hàng tháng hoặc năm mà không nhận ra.

Bởi vì những người bị bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính có xu hướng đáp ứng tốt hơn với điều trị khi nó bắt đầu sớm, gặp bác sĩ nếu có dấu hiệu hoặc triệu chứng.

4
Phân loại
5
Phòng bệnh
 Đối với nhiều người, bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính là một bệnh mãn tính sẽ sống cùng nhiều năm. Nhiều người sẽ tiếp tục điều trị với imatinib vô thời hạn. Các biện pháp tự chăm sóc để giúp điều chỉnh và đối phó với căn bệnh mãn tính bao gồm:

Đi tất cả các cuộc hẹn y tế. Những người bị bệnh bạch cầu tủy xương mãn tính thường xuyên phải đối mặt với các cuộc hẹn y tế, công tác kiểm tra máu và tủy xương. Các cuộc hẹn có thể mang lại sự lo lắng bởi vì có thể sợ ung thư không thuyên giảm hoặc tình trạng đã trở nên tồi tệ. Lo lắng xung quanh thời gian của cuộc hẹn, nhưng không để điều đó ngăn cản. Kế hoạch hoạt động làm giảm căng thẳng để có tâm trí ra khỏi mối lo. Hãy thử yoga, tập thể dục và dành thời gian với gia đình.

Nói chuyện với bác sĩ về các tác dụng phụ. Thuốc ung thư có thể gây ra nhiều tác dụng phụ mạnh, nhưng những tác dụng phụ thường có thể được quản lý với các thuốc hoặc phương pháp điều trị khác.

Không ngừng điều trị. Nếu phát triển các tác dụng phụ khó chịu, chẳng hạn như phát ban da hoặc mệt mỏi, không đơn giản là bỏ thuốc mà không tham vấn các chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Tương tự như vậy, không ngừng uống thuốc nếu cảm thấy tốt hơn và nghĩ rằng bệnh có thể thuyên giảm. Nếu ngừng uống thuốc, bệnh có thể nhanh chóng và bất ngờ trở lại, ngay cả khi đã thuyên giảm.

Yêu cầu giúp đỡ nếu gặp khó khăn. Cảm xúc của tình trạng kinh niên có thể cảm thấy áp đảo. Báo cho bác sĩ về cảm xúc. Có thể được giới thiệu đến một nhân viên tư vấn hoặc chuyên gia khác mà có thể nói chuyện.

<