1
Định nghĩa
 Viêm màng ngoài tim là viêm kích thích của màng ngoài tim, màng mỏng bao quanh tim. Viêm màng ngoài tim thường gây ra đau ngực và đôi khi các triệu chứng khác. Viêm màng ngoài tim thường đột ngột và ngắn (cấp tính). Khi các triệu chứng dần dần phát triển thêm hoặc kéo dài, tình trạng này được coi là mãn tính. Cơn đau ngực mạnh liên kết với viêm màng ngoài tim xảy ra khi bị viêm hay bị kích thích, hai lớp màng ngoài tim chà với nhau.

Trường hợp nhẹ có thể tự cải thiện. Điều trị các trường hợp nặng hơn có thể bao gồm thuốc men, hiếm khi phẫu thuật. Chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp giảm nguy cơ biến chứng lâu dài.

2
Tổng quan
 
2
Nguyên nhân
 Trong những trường hợp bình thường, túi màng ngoài tim hai lớp bao quanh tim có chứa một lượng nhỏ chất lỏng bôi trơn. Trong viêm màng ngoài tim, màng bị viêm và ma sát dẫn đến đau ngực.

Trong một số trường hợp, số lượng chất dịch chứa trong các túi màng ngoài tim có thể tăng lên, gây tràn dịch màng ngoài tim.

Nguyên nhân của viêm màng ngoài tim thường khó xác định. Trong trường hợp nhất định hoặc là bác sĩ không thể xác định nguyên nhân (vô căn) hoặc nghi ngờ bị nhiễm virus.

Viêm màng ngoài tim cũng có thể phát triển ngay sau một cơn đau tim lớn, do sự kích thích của cơ tim nằm bên dưới bị hư hỏng. Ngoài ra, một hình thức bị trì hoãn của viêm màng ngoài tim có thể xảy ra vài tuần sau khi một cơn đau tim hoặc phẫu thuật tim vì sự hình thành kháng thể. Viêm màng ngoài tim này chậm được gọi là hội chứng Dressler. Nhiều chuyên gia tin rằng hội chứng Dressler là do một phản ứng tự miễn dịch, phản ứng viêm sai lầm của cơ thể với mô - trong trường hợp này, tim và màng ngoài tim.

Các nguyên nhân khác của viêm màng ngoài tim bao gồm

Rối loạn hệ thống viêm. Có thể bao gồm lupus và viêm khớp dạng thấp.

Chấn thương. Tổn thương ngực hay có thể xảy ra như là kết quả của tai nạn xe cơ giới, tai nạn khác.

Rối loạn sức khỏe khác. Có thể bao gồm suy thận, AIDS, bệnh lao và ung thư.

Một số thuốc. Một số thuốc có thể gây viêm màng ngoài tim, mặc dù điều này là không bình thường.

3
Triệu chứng
 Viêm màng ngoài tim cấp tính thường kéo dài ít hơn một vài tuần. Viêm màng ngoài tim mãn tính kéo dài sáu tháng hoặc lâu hơn.

Nếu viêm màng ngoài tim cấp tính, triệu chứng phổ biến nhất là đau sắc nét, đau như đâm ngực phía sau xương ức hoặc bên trái ngực. Tuy nhiên, một số người bị viêm màng ngoài tim cấp tính mô tả đau ngực như là đau nhức, tức hoặc thay vào đó như áp lực, và thay đổi cường độ.

Cơn đau của viêm màng ngoài tim cấp tính có thể lan tới vai trái và cổ. Nó thường được tăng cường khi nằm xuống hoặc hít thật sâu. Ho, hít thở sâu hoặc nuốt thức ăn cũng có thể làm cho đau nặng hơn. Ngồi lên và nghiêng về phía trước thường có thể giảm đau. Đôi khi, nó có thể khó để phân biệt đau màng ngoài tim từ các cơn đau xảy ra với cơn đau tim.

Viêm màng ngoài tim mãn tính thường gắn liền với sự tích tụ của chất dịch dư thừa xung quanh tim (tràn dịch màng ngoài tim). Thường không gây đau, triệu chứng thường gặp nhất của viêm màng ngoài tim mãn tính là khó thở.

Tùy thuộc vào loại, dấu hiệu và triệu chứng của viêm màng ngoài tim có thể bao gồm một số hoặc tất cả những điều sau đây:

Đau ngực sắc nét, đau trung tâm hoặc bên trái của ngực.

Khó thở.

Sốt nhẹ.

Cảm giác yếu đuối, mệt mỏi hoặc cảm thấy bị bệnh.

Ho khan.

Bụng cổ chướng hoặc phù chân.

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay nếu phát triển đau ngực.

Nhiều trong số các triệu chứng của viêm màng ngoài tim cũng tương tự như của bệnh tim và vấn đề phổi khác. Được đánh giá sớm hơn, càng sớm càng có thể được chẩn đoán và điều trị đúng. Ví dụ, mặc dù nguyên nhân của đau ngực cấp tính có thể bị viêm màng ngoài tim, nguyên nhân cũng có thể là một cơn đau tim hoặc một cục máu đông máu của phổi (thuyên tắc phổi).

4
Phân loại
5
Phòng bệnh
 
<